Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Hà Nội

Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và cũng là kinh đô của hầu hết các vương triều phong kiến Việt trước đây. Do đó, lịch sử Hà Nội gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ. Hà Nội là thành phố lớn nhất Việt Nam về diện tích với 3328,9 km2 sau đợt mở rộng hành chính năm 2008, đồng thời cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân số với 7.500.000 người (năm 2015). Hiện nay, thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là đô thị loại đặc biệt của Việt Nam.

“Hà Nội” bắt đầu được dùng làm địa danh ở Việt Nam từ năm Minh Mạng thứ 12 (Tây lịch năm 1831) khi có một tỉnh có tên là tỉnh Hà Nội được thành lập ở Bắc Thành. “Hà Nội” chữ Hán là “河內”, nghĩa mặt chữ là bên trong sông, tên gọi này phản ánh vị trí địa lý của tỉnh Hà Nội. Tỉnh này nằm giữa hai con sông là sông Nhị ở phía đông bắc và sông Thanh Quyết ở phía tây nam.

Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại, được mệnh danh là “Tiểu Paris Phương Đông” thời bấy giờ. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Hà Nội là thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau khi thống nhất tiếp tục là thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Nội dung bài viết – Có thiếu sót thì hãy comment bên dưới bạn nhé!!!

Hồ Hoàn Kiếm còn được gọi là Hồ Gươm (trong bản đồ Hà Nội năm 1886, hồ này được gọi là Hồ Hoàn Gươm – Lac de Hoan Guom), là một hồ nước ngọt tự nhiên của thành phố Hà Nội. Hồ có diện tích khoảng 12 ha.

Trước kia, hồ còn có các tên gọi là hồ Lục Thủy (vì nước có màu xanh quanh năm), hồ Thủy Quân (dùng để duyệt thủy binh), hồ Tả Vọng và Hữu Vọng (trong thời Lê mạt). Tên gọi Hoàn Kiếm xuất hiện vào đầu thế kỷ 15 gắn với truyền thuyết vua Lê Lợi trả gươm báu cho Rùa thần. Tên hồ được lấy để đặt cho một quận trung tâm của Hà Nội (quận Hoàn Kiếm) và là hồ nước duy nhất của quận này cho đến ngày nay.

hanoi1

Tuy không phải là hồ lớn nhất trong thủ đô, song hồ Hoàn Kiếm đã gắn liền với cuộc sống và tâm tư của nhiều người. Hồ nằm ở trung tâm một quận với những khu phố cổ chật hẹp, đã mở ra một khoảng không đủ rộng cho những sinh hoạt văn hóa bản địa. Hồ có nhiều cảnh đẹp.

Và hơn thế, hồ gắn với huyền sử, là biểu tượng khát khao hòa bình (trả gươm cầm bút), đức văn tài võ trị của dân tộc (thanh kiếm thiêng nơi đáy hồ và tháp bút viết lên trời xanh). Do vậy, nhiều văn nghệ sĩ đã lấy hình ảnh Hồ Gươm làm nền tảng cho các tác phẩm của mình.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, hay còn gọi là Lăng Hồ Chủ tịch, Lăng Bác, là nơi đặt thi hài của chủ tịch Hồ Chí Minh. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính thức khởi công ngày 2 tháng 9 năm 1973, tại vị trí của lễ đài cũ giữa Quảng trường Ba Đình, nơi ông đã từng chủ trì các cuộc mít tinh lớn.

hanoi2

Lăng được khánh thành vào ngày 29 tháng 8 năm 1975. Lăng gồm 3 lớp với chiều cao 21,6 mét, lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp, lớp giữa là kết cấu trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, những cầu thang lên xuống. Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương, lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp. Ở mặt chính có dòng chữ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh” bằng đá hồng màu mận chín.

Trong di chúc, Hồ Chí Minh muốn được hỏa táng và đặt tro tại ba miền đất nước. Tuy nhiên, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, với lý do tuân theo nguyện vọng và tình cảm của nhân dân, quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chí Minh để sau này người dân cả nước, nhất là người dân miền Nam, khách quốc tế có thể tới viếng.

Cột cờ Hà Nội hay còn gọi Kỳ đài Hà Nội là một kết cấu dạng tháp được xây dựng cùng thời với thành Hà Nội dưới triều nhà Nguyễn (bắt đầu năm 1805, hoàn thành năm 1812). Kiến trúc cột cờ bao gồm ba tầng đế và một thân cột, được coi là một trong những biểu tượng của thành phố.

hanoi3

Đỉnh cột cờ được cấu tạo thành một cái lầu hình bát giác, cao 3,3 m có 8 cửa sổ tương ứng 8 cạnh. Giữa lầu là một trụ tròn, đường kính 0,4 m và cao đến đỉnh lầu, là chỗ để cắm cán cờ (cao 8 m).

Toàn phần xây từ đế đến trụ này cao 33,4 m gồm 3 tầng đế cao 12 m, cột cao 18,2 m, lầu 3,3 m. Nếu kể cả trụ treo cờ thì trên 40 m.

Khi người Pháp phá thành Hà Nội, họ định phá luôn cột cờ, may mắn là họ không tiến hành việc này, lý do vì họ muốn biến nó thành đài xem đua ngựa. Hiện Cột cờ Hà Nội nằm trong khuôn viên của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (trước đây là Bảo tàng Quân đội), trên đường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình.

Văn Miếu – Quốc Tử Giám (chữ Hán: 文廟 – 國子監) là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội, nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long. Hiện nay, nơi đây đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt.

Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám và vườn Giám và kiến trúc chủ thể là Văn Miếu – nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám có tường gạch vồ bao quanh, phía trong chia thành 5 lớp không gian với các kiến trúc khác nhau.

hanoi4

Mỗi lớp không gian đó được giới hạn bởi các tường gạch có 3 cửa để thông với nhau (gồm cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên). Từ ngoài vào trong có các cổng lần lượt là: cổng Văn Miếu, Đại Trung, Đại Thành và cổng Thái Học. Với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại TPHCM

Nay, Văn Miếu-Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng là nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc và còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến “cầu may” trước mỗi kỳ thi.

Theo tài liệu lịch sử, lối kiến trúc một cột có từ trước đời nhà Lý. Ở Hoa Lư, Ninh Bình trong ngôi chùa Nhất Trụ mà con gái vua Đinh Tiên Hoàng tu hành, có một cây cột đá cao, tám cạnh, khắc bài kinh Lăng Nghiêm, đề niên hiệu thời Lê Hoàn (981–1005). Phía trên cột là tòa sen chạm. Năm Long Thụy Thái Bình thứ năm đời Lý Thánh Tông (1058) có xây điện Linh Quang ở Thăng Long, phía trước điện dựng lầu chuông, một cột tám cạnh hình bông sen. Như vậy, trước khi xây chùa Một Cột, lối kiến trúc đó đã là một thực tế nghệ thuật cổ truyền.

hanoi5

Ngôi chùa có kết cấu bằng gỗ, trong chùa đặt tượng Phật bà Quan Âm để thờ. Năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho mở rộng kiến trúc khu chùa có thêm hồ Linh Chiểu. Về sau, quy mô chùa Một Cột chỉ còn lại ngôi chùa nhỏ trên cột đá như hình ảnh hiện nay.

Chùa Một Cột đã được chọn làm một trong những biểu tượng của thủ đô Hà Nội và nó cũng là kiến trúc tại hà nội được nhiều phật tử khắp cả nước viếng thăm, ngoài ra biểu tượng chùa Một Cột còn được thấy ở mặt sau đồng tiền kim loại 5000 đồng của Việt Nam. Tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cũng có một phiên bản chùa Một Cột.

Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam lần thứ 1(1965-1968),cầu bị máy bay Mỹ ném bom 10 lần,hỏng 7 nhịp và 4 trụ lớn Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam lần thứ hai của không lực Hoa Kỳ (1972) cầu Long Biên bị ném bom 4 lần,phá hỏng 1500m cầu và hai trụ lớn bị cắt đứt.

Để bảo vệ cầu, bộ đội công binh và phòng không Việt Nam xây dựng hai trận địa pháo phòng không cao 11,5 m trên bãi cát nổi giữa sông Hồng (còn gọi là bãi giữa), để vẫn có thể bắn máy bay Hoa Kỳ khi có lũ cao nhất.

hanoi6

Cầu Long Biên là cây cầu thép đầu tiên bắc qua sông Hồng nối hai quận Hoàn Kiếm với quận Long Biên của Hà Nội, do Pháp xây dựng (1898-1902), đặt tên là cầu Doumer, theo tên của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer. Dân gian còn gọi là cầu sông Cái hay cầu Bồ Đề (vì nó được bắt qua bến Bồ Đề thuộc huyện Gia Lâm). Hiện trên đầu cầu vẫn còn tấm biển kim loại có khắc chữ 1899 -1902 – Daydé & Pillé – Paris.

Hoàng thành Thăng Long (chữ Hán: 昇龍皇城 / Thăng Long hoàng thành) là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long – Đông Kinh và tỉnh thành Hà Nội bắt đầu từ thời kì tiền Thăng Long (An Nam đô hộ phủ thế kỷ VII) qua thời Đinh – Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn. Đây là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam.

hanoi7

Vào lúc 20 giờ 30 ngày 31/7/2010 theo giờ địa phương tại Brasil, tức 6 giờ 30 ngày 1/8/2010 theo giờ Việt Nam, Ủy ban di sản thế giới đã thông qua nghị quyết công nhận khu Trung tâm hoàng thành Thăng Long – Hà Nội là di sản văn hóa thế giới.

Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản này được ghi nhận bởi 3 đặc điểm nổi bật: chiều dài lịch sử văn hóa suốt 13 thế kỷ; tính liên tục của di sản với tư cách là một trung tâm quyền lực, và các tầng di tích di vật đa dạng, phong phú.

Nhà hát Lớn Hà Nội là một công trình kiến trúc phục vụ biểu diễn nghệ thuật tọa lạc trên quảng trường Cách mạng tháng Tám, vị trí đầu phố Tràng Tiền, không xa hồ Hoàn Kiếm và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

Công trình được người Pháp khởi công xây dựng năm 1901 và hoàn thành năm 1911, theo mẫu Nhà hát Opéra Garnier ở Paris nhưng mang tầm vóc nhỏ hơn và sử dụng các vật liệu phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương. Tác phẩm của hai kiến trúc sư Harlay và Broyer mang nhiều màu sắc, đường nét kiến trúc của các nhà hát ở miền Nam nước Pháp, có cách tổ chức mặt bằng, không gian biểu diễn, cầu thang, lối vào sảnh… giống với các nhà hát ở châu Âu đầu thế kỷ 20.

hanoi8

Mặc dù là một công trình kiến trúc mang tính chiết trung, được pha trộn nhiều phong cách, nhưng Nhà hát Lớn Hà Nội vẫn mang đậm dáng vẻ Tân cổ điển Pháp, đặc biệt ở kết cấu kiến trúc, kiểu mái hai mảng lợp ngói đá đen cùng các họa tiết trang trí bên trong.

Ra đời muộn hơn các nhà hát ở Sài Gòn và Hải Phòng, nhưng Nhà hát Lớn Hà Nội có kiến trúc hoàn chỉnh nhất và trở thành một hình ảnh quen thuộc, đặc trưng của thành phố Hà Nội.

Nhà thờ Lớn Hà Nội (tên chính thức: Nhà thờ chính tòa Thánh Giuse) là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Hà Nội, nơi có ngai tòa của tổng Giám mục. Đây cũng là một nhà thờ cổ tại thành phố này, thường xuyên diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng của các giáo dân thuộc tổng giáo phận Hà Nội.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Tây Nguyên

Nhà thờ được thiết kế theo phong cách kiến trúc Gothic trung cổ châu Âu, rất thịnh hành trong thế kỷ 12 và thời Phục Hưng ở châu Âu, làm theo mẫu của Nhà thờ Đức Bà Paris với những mái vòm uốn cong, rộng, hướng lên bầu trời.

hanoi9

Vật liệu xây dựng chính của nhà thờ là gạch đất nung, tường trát bằng giấy bổi. Nhà thờ có chiều dài 64,5m, chiều rộng 20,5m và hai tháp chuông cao 31,5m với những trụ đá to nặng bốn góc. Trên đỉnh là cây thánh giá bằng đá.

Phía sảnh trong nhà thờ, có một cửa đi lớn, hai cửa nhỏ hai bên tháp. Các cửa đi và toàn bộ các cửa sổ đều cuốn nhọn theo nghệ thuật Gothique, kết hợp với các cửa cuốn nhọn là những bức tranh Thánh bằng kính màu rất đẹp và hài hòa tạo ra nguồn ánh sáng tự nhiên bên trong lòng nhà thờ. Khu cung thánh được trang trí theo nghệ thuật dân gian truyền thống, chạm trổ hoa văn bằng gỗ sơn son thiếp vàng rất tinh vi độc đáo. Ở tòa gian chính có tượng thánh Giuse bằng đất nung cao hơn 2m.

Chùa Trấn Quốc (鎭國寺) nằm trên một hòn đảo phía Đông Hồ Tây (quận Tây Hồ), chùa có lịch sử 1500 năm, được coi là lâu đời nhất ở Thăng Long – Hà Nội. Kiến trúc chùa có sự kết hợp hài hoà giữa tính uy nghiêm, cổ kính với cảnh quan thanh nhã giữa nền tĩnh lặng của một hồ nước mênh mang. Là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long vào thời Lý và thời Trần.

hanoi10

Chùa Trấn Quốc toạ lạc trên một hòn đảo duy nhất của một hồ nước ngọt lớn nhất ở Hà Nội. Vào thời Hai Bà Trưng (40 – 43), khu vực xung quanh Hồ Tây dân cư rất thưa thớt, có các hang động vừa và nhỏ và rừng cây bao phủ, trong rừng còn có cả một số loài thú quý hiếm sinh tồn.

Cùng trải qua thời gian hàng nghìn năm tồn tại của ngôi chùa, cảnh quan nơi đây bây giờ được đổi khác hoàn toàn. Bờ hồ có đường lớn bao quanh, những ngôi nhà biệt thự và công trình hiện đại hình thành… Một mặt thể hiện sự hoàn thiện tổng thể kiến trúc của thành phố, nhưng mặt khác vô tình phá vỡ cảnh quan lịch sử và tâm linh trong quan niệm sống của số dân cư bản địa.

Được thiết kế bởi nhóm tác giả Meinhard Von Gerkan, Nikolaus Goetze, Dirk Heller và Joern Ortmann thuộc GMP International GmbH (Đức), công trình Nhà Quốc hội với phong cách kiến trúc hiện đại song vẫn mang đậm bản sắc dân tộc đã tạo nên hình ảnh kết nối giữa quá khứ và tương lai đất nước khi được xây dựng trên vùng đất có ý nghĩa lịch sử của dân tộc Việt Nam qua nhiều thời đại. Có lẽ cũng chính vì vậy mà trong cuộc thi tuyển phương án thiết kế Nhà Quốc hội, Gmp International GmbH đã nhận được sự đồng thuận nhất trí cao nhất của cả 15 vị giám khảo.

 width=

Theo đánh giá của hội đồng giám khảo, công trình Nhà Quốc hội mới xử lý thành công những yêu cầu cơ bản nhất của một Nhà Quốc hội. Đó là yêu cầu sử dụng, nhưng đồng thời giải quyết được sự tồn tại trong một không gian Quảng trường Ba Đình mà không tạo ra sự đối kháng, “va đập” với các công trình xung quanh.

 width=

Với tính chất công trình quan trọng bậc nhất của quốc gia, hình ảnh Nhà quốc hội toát lên vẻ bề thế, nghiêm trang của cơ quan quyền lực cao nhất này. Tòa nhà còn có khu vực đỗ xe ngầm quy mô 3 tầng hầm với sức chứa 500 ôtô với diện tích trên 17.000 m2; đường hầm nối Nhà Quốc hội và Bộ Ngoại giao dài 60 m, có 2 phần đường dành cho người đi bộ và dành cho ôtô.

Keangnam Hanoi Landmark Tower là một khu phức hợp khách sạn-văn phòng-căn hộ-trung tâm thương mại tại đường Phạm Hùng, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội được đầu tư xây dựng bởi tập đoàn Keangnam có trụ sở chính tại Dongdaemun-gu, Seoul của Hàn Quốc. Keangnam Landmark Tower được bàn giao từ 20 tháng 3 năm 2011 đến cuối tháng 12 năm 2011 đã có 780 hộ chuyển vào sinh sống.

Với tổng diện tích 609,673m2 và là tòa nhà cao nhất Việt Nam (350m), nơi đây có thể được coi là biểu tượng cho sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là sự tăng trưởng về xây dựng cũng như ngành công nghiệp dịch vụ, những ngành đang thúc đẩy sự phát triển của thành phố Hà Nội.

 width=

Tòa tháp là tòa nhà cao nhất Việt Nam. Landmark 72 là khu phức hợp nằm ngay trung tâm khu đô thị mới của Hà Nội, Việt Nam. Với hai tòa nhà chung cư 50 tầng và một tòa tháp 72 tầng, một thành phố thu nhỏ trong lòng Hà Nội.

Khu chung cư bao gồm 922 căn hộ cao cấp nhất với các tiện ích như fitness center, bể bơi và khu mua sắm. Tại tòa nhà nối giữa tòa 72 tầng và tòa chung cư căn hộ là khu thương mại với khu mua sắm Parkson lớn nhất Đông Nam Á và rạp chiếu phim Lotte hiện đại.

 width=

Ngoài ra còn có khu vực văn phòng hạng A từ tầng 12 đến tầng 46 nhìn ra phong cảnh Hà Nội; Khu căn hộ dịch vụ Calidas từ tầng 48 đến tầng 60; Khách sạn Intercontinental nổi tiếng thế giới từ tầng 62 đến 70.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Cần Thơ

Thêm nữa là hội trường có sức chứa 2000 người, khu tổ chức sự kiện ngoài trời, bể bơi ngoài trời và bar ngoài bể bơi. Với độ cao 350m, bạn có thể ngắm bức tranh toàn cảnh Hà Nội tại đài quan sát trên tầng 72.

Sân vận động quốc gia Mỹ Đình là sân vận động quốc gia ở Hà Nội, Việt Nam có sức chứa lớn thứ nhì Việt Nam (sau sân vận động Cần Thơ – tối đa 45.000 chỗ). Nằm tại đường Lê Đức Thọ (phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm), cách trung tâm Hà Nội 10 km về phía tây nam, sân vận động Mỹ Đình là sân vận động có sức chứa lớn thứ nhì Việt Nam (sau sân vận động Cần Thơ, có thể chứa 50.000 người). Chi phí xây dựng sân vận động Mỹ Đình là 52.983 triệu đô la Mỹ với đơn vị trúng thầu là Tập đoàn HISG (Trung Quốc). Tuy nhiên sau khi hoàn thành, nhiều sai phạm lớn đã bị phát hiện.

 width=

Sân chính là SVĐ đa chức năng: sân bóng đá có kích thước 105 mét x 68 mét, kết hợp thi đấu điền kinh với 8 đường chạy vòng 400 mét và 10 đường chạy thẳng 110 m, 2 sân nhảy cao, 2 sân ném tạ, ném lao, ném tạ xích, 2 khu nhảy sào kép, 2 khu nhảy xa kép. Tổng diện tích khu vực (1 sân chính, 2 sân tập): 17,5 ha.

 width=

Sân có 4 khán đài: khán đài phía Tây và phía Đông có 2 tầng, cao 25,8 mét; khán đài phía Bắc và phía Nam có 1 tầng, cao 8,4 mét. Xung quanh sân vận động có 419 phòng chức năng. Hệ thống chiếu sáng của sân gồm 355 bóng, được bố trí ở 4 cột, cao 54 mét. Mái SVĐ nặng 2.300 tấn, khẩu độ 156 mét, đường kính 1,1 mét.

Sức chứa 40.192 chỗ ngồi (450 ghế VIP, 160 ghế dành cho phóng viên báo chí) và là trung tâm của Liên hợp thể thao quốc gia Việt Nam.

Cầu Nhật Tân là một cây cầu được xây dựng với tổng mức đầu tư hơn 13.626 tỷ đồng nằm trong tổng số 7 cầu bắc qua sông Hồng đoạn Hà Nội, nối quận Tây Hồ với huyện Đông Anh, kết cấu nhịp của cầu chính theo dạng cầu dây văng nhiều nhịp với 5 trụ tháp hình thoi và 6 nhịp dây văng, bắt đầu tại phường Phú Thượng, quận Tây Hồ đến điểm cuối giao với quốc lộ 3 tại km 7+100, xã Vĩnh Ngọc huyện Đông Anh.

Cầu được khởi công ngày 7 tháng 3 năm 2009, ngay sau khi hoàn thành cầu Thanh Trì và hoàn thành nhân kỷ niệm Thăng Long-Hà Nội 1000 năm. Theo dự án, cầu được kết cấu kiểu dây văng liên tục bê tông cốt thép dự ứng lực, thi công bằng phương án đúng hẫng cân bằng. Cầu Nhật Tân được khánh thành vào ngày 4/1/2015, đồng bộ với đường Nhật Tân – Nội Bài tạo nên một tuyến cao tốc nội đô hiện đại, rút ngắn thời gian di chuyển từ cảng hàng không quốc tế Nội Bài tới trung tâm Hà Nội. Cầu được xem là biểu tượng mới của Thủ đô Hà Nội với 5 nhịp dây văng tượng trưng cho 5 cửa ô.

 width=

Mặt cầu rộng 33,2m với 8 làn xe cho cả hai chiều, chia thành 4 làn xe cơ giới, 2 làn xe buýt, 2 dải xe hỗn hợp, phân cách giữa, đường dành cho người đi bộ. Cầu dài 3,9 km và có đường dẫn 5,27 km, trong đó phần chính của cầu qua sông dài 1,5 km.

 width=

Đã từng có một số ý kiến cho rằng nên đổi tên cầu thành cầu Cổ Loa hoặc Đông Đô, theo tên của kinh thành Thăng Long các thời An Dương Vương và Lê Lợi, vì địa danh xây dựng cầu không nằm trên đất vùng trồng đào Nhật Tân nổi tiếng.

Cầu Thê Húc là cây cầu ở hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, thủ đô của Việt Nam. Nối từ Bờ Hồ ra hòn đảo nhỏ nơi có đền Ngọc Sơn, cây cầu này màu đỏ son, làm bằng gỗ, có nhiều trụ liên tiếp. Cầu được Thần Siêu Nguyễn Văn Siêu xây dựng vào năm 1865. Tên của cầu có nghĩa là “nơi đậu ánh sáng Mặt Trời buổi sáng sớm” hay “Ngưng tụ hào quang” (棲旭).

 width=

Năm 1865 dưới triều Tự Đức, Nguyễn Văn Siêu cho xây cầu nối bờ với đền Ngọc Sơn và đặt tên nó là Thê Húc (nghĩa là “giọt ánh sáng đậu lại” hay “Ngưng tụ hào quang”). Cầu gồm 15 nhịp, có 32 chân cột gỗ tròn xếp thành 16 đôi, mặt cầu lát ván, thành sơn màu đỏ sẫm, chữ Thê Húc được thếp vàng.[1] Cầu đã trải qua hai lần tái thiết kể từ khi hoàn tất. Lần thứ nhất là vào năm 1897 triều Thành Thái. Lần thứ nhì là vào năm 1952 sau khi một nhịp cầu gãy vào đêm Giao thừa năm Nhâm Thìn vì khách đi lễ đền Ngọc Sơn quá đông. Dưới sự giám sát của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng cầu được xây lại thay vì bằng gỗ thì móng cầu được đúc lại bằng xi măng.

Cầu Thê Húc xưa kia được làm bằng gỗ rất thô sơ và sơn màu đỏ. Năm 1952 thị trưởng Hà Nội lúc đó là Thẩm Hoàng Tín đã cho phá bỏ cầu cũ, xây cầu mới sau vụ cầu sập, sử dụng thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Diệm. Cầu được thiết kế vẫn với dáng cầu vòng nhưng độ cong lớn hơn cầu cũ, vẫn giữ nguyên 16 hàng cọc; các dầm ngang và dọc đúc bằng bê tông. Mặt cầu và thành cầu vẫn là gỗ.

 width=

Cầu Thê Húc hướng về phía đông, hướng về phía mặt trời mọc để đón được toàn vẹn nguồn dưỡng khí ấy. Với ý nghĩa ấy, nên xưa nay cây cầu mang màu đỏ – màu của sự sống, của mọi nguồn hạnh phúc, của ước vọng truyền đời từ thời cổ đại đến nay – cây cầu Thê Húc – biểu tượng của thần mặt trời.

Cả một quần thể di tích nằm trong không gian đầy huyền thoại của Hồ Gươm đều mang dấu ấn về tín ngưỡng thờ thần mặt trời. Từ Đài nghiên, Tháp bút cho đến cây cầu Thê Húc… từ việc chọn hướng đến cấu trúc, màu sắc, biểu tượng cho đến sự liên hoàn giữa các di tích đều ẩn chứa yếu tố linh thiêng này.

Một góc nhìn khác – góc nhìn của thẩm mỹ dân gian thì cây cầu Thê Húc chỉ có thể có một cách chọn lựa duy nhất là sơn màu đỏ, không thể khác. Với điều này, xin được lược trích ý kiến của ông cháu nhà phê bình mỹ học Vũ Ngọc Anh: “… Đúng là cái cầu này đứng giữa thanh thiên bạch nhật thì lúc nào nó chẳng có ánh nắng rọi vào. Tứ thời bát tiết, trong những khung cảnh riêng nào đấy, hình bóng nó cũng mỗi lúc một khác…”

Nhà thờ Cửa Bắc là một nhà thờ Công giáo ở Hà Nội, công trình kiến trúc này có nhiều nét độc đáo, tạo thêm điểm chấm phá trong không gian đô thị Hà Nội.

 width=

Nằm ở số 56 phố Phan Đình Phùng, quận Ba Đình, xây dựng ở Cửa Bắc thành Thăng Long nên được gọi tên là Cửa Bắc. Được xây vào năm 1931 – 1932, do một linh mục, kiến trúc sư người Pháp tên là Đô-pô-lit (tên Việt gọi đó là Cố Hương) thiết kế theo kiểu hình chữ nhật (kiến trúc Ba-xi-la-va), kết hợp phong cách Á – Âu, không tuân theo quy tắc đối xứng, mà lệch với tháp chuông cao ở bên phải và cân bằng với mái vòm (Cúp-pô-lơ) ở trung tâm. Có sự biến hóa hài hòa với không gian xung quanh, nhưng vẫn đảm bảo sự trang nghiêm và có phần tĩnh mịch, gây được ấn tượng về một sự siêu thoát. Kiến trúc nhà thờ Cửa Bắc thể hiện sự hòa hợp với khung cảnh nhiệt đới, với văn hóa phương Đông.

 width=

Sáng ngày 19 tháng 11 năm 2006, trong khuôn khổ tham dự Hội nghị lãnh đạo kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) tại Việt Nam, tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush và phu nhân Laura Bush đã tham dự thánh lễ tại nhà thờ Cửa Bắc.

Ga Hà Nội là nhà ga đường sắt chính của Hà Nội. Từ đây, hành khách có thể làm thủ tục mua vé tàu hỏa đi các tuyến trong nước. Phía đường Lê Duẩn là khu A, chuyên phục vụ các chuyến tàu Thống Nhất. Phía sau khu A là khu B nằm trên phố Trần Quý Cáp (đoạn gần ngã ba Nguyễn Khuyến – Trần Quý Cáp).

 width=

Lịch sử đã sang một trang mới. Hôm nay, bước chân đến Ga Hà Nội, hành khách sẽ thấy một nhà ga hiện đại, văn minh với hệ thống phòng đợi tàu, phòng đợi khách liên vận quốc tế khang trang, lịch sự, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị như bảng chỉ dẫn điện tử, hệ thống internet không dây phục vụ hành khách đi tàu hiện đại… Hệ thống quản lý đặt chỗ bán vé tự động ngày càng phát huy hiệu quả, đặc biệt trong công tác bán vé. Trong những năm đổi mới, ga Hà Nội đã được nhận nhiều danh hiệu cao quý do Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải, ngành ĐS và các đoàn thể trao tặng: Huân chương Lao động hạng Ba, Bằng khen, Cờ luân lưu của Chính phủ, Cờ thi đua xuất sắc nhất của Bộ Giao thông vận tải, đơn vị dẫn đầu thi đua ngành đường sắt.

Cho đến nay, ga Hà Nội lửa có quy mô lớn nhất xứ Đông Dương với chiều dài gần 200m, có kiến trúc giống như công sở hơn là kiến trúc công cộng. Trước năm 1900, mảnh đất này vốn là chợ bán cỏ cho ngựa thuộc thôn Tiên Mỹ, huyện Thọ Xương. Theo đánh giá của giới kiến trúc đô thị, ga Hà Nội và cầu Long Biên được xếp hạng công trình quan trọng, tạo điểm nhấ

Chân dung nữ sinh được xem là nổi bật nhất trong bức ảnh gây sốt …

Phong cách tối giản và một chút vintage trong ngôi nhà Nhật – Emdep.vn

Mai Văn Phấn – những chặng đường sáng tạo thơ… (phê bình)


Mai Văn Phấn – những chặng đường sáng tạo thơ… (phê bình) – Đào Duy Hiệp

Mai Văn Phấn – những chặng đường sáng
tạo thơ…

 src=

 

 

 

Thôi đừng
dỗ cỏ lên trời

Khi tan mộng mị biết ngồi với ai

MVP

 

1. Lời mở:

Những câu thơ vu vơ, nói
chuyện với cỏ cây, hoa lá, chim muông, sông biển, ánh nắng mặt trời, một cơn
mưa xứ sở, một ban mai trong lành với âm điệu từ một bài ca xưa cũ, một hồi còi
tàu giục giã đêm khuya, v.v… của nhà thơ là để nói gì? Câu hỏi có phần “khiêu
khích”. Nhưng chính Thơ trước hết đã là một sự “khiêu khích” đối với bản ngữ
cộng đồng nơi mà nó được sinh ra, “khiêu khích” đối với độc giả. Đặt câu hỏi
như trên phần nào độc giả, trong đó có tôi, đã đi ngược trở lại con đường sáng
tạo của nhà thơ. Bài viết sẽ đi vào tìm hiểu thơ từ “hát” đến “nói” trong tuyển
thơ ba giai đoạn của Mai Văn Phấn; phân tích những ẩn dụ ám ảnh “cỏ”, “nước” từ
phương pháp phê bình ý thức, phương pháp ngôn ngữ học, phê bình phân tâm học;
nội dung, ý nghĩa và cấu trúc nghệ thuật của chúng; và cuối cùng, một vài suy
nghĩ về Nhà thơ và Người đọc hôm nay.

 

2. Thơ Mai Văn Phấn
từ “hát” đến “nói”:

 

Tuyển thơ gồm ba phần về
sáng tác theo thời gian: 1. Từ khởi đầu đến năm 1995; 2. Từ năm 1995 đến 2000;
3. Từ năm 2000 đến nay. (Tôi không
bàn đến phần tiểu luận và những trả lời phỏng vấn của anh)(
).

 

“Từ khởi đầu” thì không biết
từ bao giờ vì các bài thơ đều không có lạc khoản, nhưng: “Thôi đừng dỗ cỏ lên trời…” mà tôi lấy
làm đề từ cho bài viết chính là bài đầu tiên cho cái “khởi đầu” đó. Ba giai
đoạn thơ, tính đến nay chắc chắn là đã trên một phần tư thế kỉ, có thể còn hơn
thế. “Nửa đời nhìn lại”.

 

2.1. Giai đoạn “khởi đầu” có những bài, những câu để lại ấn
tượng: “Tháng ngày gương lược về đâu / Chân trời để xõa một màu cỏ
 non” (Mười
nén nhang ở ngã ba Đồng Lộc
). Kín đáo, tội tội: sự vắng mặt của đối tượng
(những người con gái năm xưa đã hi sinh) được ẩn dụ bằng “gương lược” và “để
xõa”. Đương nhiên, cả vật thể và hành động đó đều gọi ra cái không có mặt là:
“tóc” mà lại là “tóc dài” của phụ nữ. Lấy bộ phận để chỉ toàn thể, đã đành;
nhưng ở đây, nó lại đến bằng một con đường gián tiếp, “trung chuyển”: “gương
lược” và “để xõa” (hiện diện) – “tóc dài” (vắng mặt) – “phụ nữ” (vắng mặt) thì
tự nhiên, sự “vắng mặt” lại trở thành “hiện diện” trong tâm trí người đọc,
nhưng xót xa, thương cảm hơn. Cả thời gian “tháng ngày” và không gian “chân
trời” đều hoang vắng, chỉ còn “một màu cỏ
 non” của cái vô cùng, bất diệt và cái đang lên
xanh. (Tự nhiên tôi nhớ đến Cỏ xót xa đưa
của Trịnh Công Sơn). Chính từ những ẩn dụ đó mà, tạm gọi là thi pháp về cái
vắng mặt, – nhà thơ đã thay thế một thực tại vốn có bằng một thực tại tưởng
tượng mà không cần gọi tên nó lên như Octavio Paz đã nói về thơ Mallarmé. Đến Em xa thơ Mai Văn Phấn đã ít “hát” hơn
và bắt đầu tập “nói” để rồi anh đã tìm ra giọng thơ của mình, định hình và phát
triển nó lên ở những bài sau này(
). Bài thơ đã “tố cáo” sự thay đổi
giọng của nhà thơ để gặp Nhật ký đô thị
hóa
đã thực sự trưởng thành và cảm động. Nó trộn lẫn, hòa quyện giữa cội rễ
sâu xa của truyền thống với cái hiện đại ngổn ngang trong tâm thức con người
bằng một sáng tạo hình thức có dụng ý. Mở đầu Em xa: “Nơi ấy. Da thịt em
đã ngủ, bởi có tiếng tâm linh đang thầm thì trong anh:” và kết lại: “Tiếng em gọi chói chang bên kia sông mơ, con
thuyền anh bỗng thành con chó nhỏ”, còn chính “bài thơ” – “tiếng tâm linh đang
thầm thì” thì ở giữa, được in nghiêng. Đọc “bài thơ” in nghiêng này ta sẽ bị
hẫng vì quán tính lục bát ở hàng loạt các bài trước đó. Nhịp cứ “dang dở”, “lỡ
làng”, “mộng mị” như… em xa! Em
lần theo bóng mây trôi / Thấm qua sóng lá vô hồi / Ðằm vào anh tiếng chim đôi
bất ngờ / Làm vang lên những dây tơ vừa chùng
”. Khá lạ. Câu kết “Tiếng em gọi chói chang bên kia sông mơ, con
thuyền anh bỗng thành con chó nhỏ”, là một câu siêu thực: âm thanh được nghe
bằng thị giác “chói chang”, tạo ra một vùng sáng kì ảo, trỏ cái mộng mị, lỡ
nhịp của cả bài.

 

Tôi
thích những hình ảnh giàu liên tưởng: “Cánh chim vừa liệng dao cau / Dòng sông
đã ngậm bã trầu phù sa” (Du ca); “
Cánh chim tựa que diêm quẹt vào
ngây dại” (Cánh chim bay qua); “Tiếng chim treo vào heo may / Trong
lá khô rơi còn ấm” (Nhớ Hà Nội); “Trăng gày đợi bến mày
ngài / Thuyền ta qua nổi đêm dài này không…” (Trương Chi); “Không gian như phủ chúa / Hoa cười vang cung mê” (Vầng
trăng và con đường
); “Tiếng thời gian khoan nhặt / Bên thềm rêu
gọi hè” (Nghi Tàm); hay thấm
thía, chiêm nghiệm: “Hồn mình dựa chốn mong manh / Rồi hư danh ấy cũng thành hư
không” (Kinh cầu ban mai); “Cái
ác đã ngủ yên trong nhụy đắng / Cho
đất lành thơm mát đến rưng rưng” (Hồn
nhiên
);…

 

2.2. Giai đoạn 2 và sau đó… Dễ nhận ra, sự “chín” dần về ngôn ngữ, nhịp điệu, thanh âm của thơ
Mai Văn Phấn ở những bài sau bằng thơ tự do hay văn xuôi. Trường ca Người cùng thời, gồm 10 chương, dài tới
gần 50 trang. (Có lẽ không thể nói về nghệ thuật trường ca trong một bài tham
luận Hội thảo được bởi sẽ có nguy cơ không có hồi dừng lại). Nhưng trước khi
chuyển sang thơ “nói”, tôi muốn dành trích dẫn một định nghĩa của Octavio Paz,
nhà thơ Mêhico đoạt giải Nobel Văn học, 1990, về trường ca:

 

“Một trường ca không phải là một suite
[loạt, chuỗi, dãy – tiếng Pháp], mà là một hình hài có tổ chức trong đó
tính bất đồng giữa các yếu tố sẽ được giải quyết trong tính thống nhất của tác
phẩm. (…). Trong một sáng tác (trường ca – ĐDH) đích thực: chủ đề trở đi đồng
thời trở lại; nó nảy sinh từ một khởi hứng đầu tiên, nó phân đôi, đan bện với
các khởi hứng và đề tài khác, thay đổi không ngừng và trở về chính nó. Sự phát
triển của nó là đường thẳng và liên tục, đồng thời và đồng hiện, cái đường vốn
biểu hiện nó có thể là thẳng, hoặc cong, trong đường trục hay trong đường dích
dắc. Nhưng việc so sánh nó với đường là chưa đủ: trường ca là hình và khối. Một
đầu của nó ăn thông với âm nhạc còn đầu kia với kiến trúc”(
).

 

Phần nào đó, Người cùng thời đã đáp ứng được một số
yêu cầu trên về chủ đề và sự trở về của nó; sự phát triển trên các trục, những
hình và khối…. Thơ từ giai đoạn 2 trở đi nhìn chung không còn ngọt ngào, dễ đọc
hoặc có thể gọi là hiền lành, “cả tin” như các bài ở phần “khởi đầu” nữa. Điều
đó có thể được lí giải từ hai điểm: sự chín dần theo thời gian và nỗ lực, tích
cực đổi khác chính mình của nhà thơ. Như vậy, người đọc cũng không thể không
đổi khác. Marcel Raymond được coi là chủ soái của trường phái phê bình ý thức,
tạo ra cái gọi là phê bình hợp tác (critique participatrice), thiết lập mối tương quan giữa
tác phẩm và người đọc. Người đọc sẽ tháo gỡ, xây dựng lại tác phẩm, thâm nhập
vào cấu trúc bên trong của tác phẩm. Georges Poulet cũng cho rằng nhà phê bình,
phải hoà đồng với một ý thức khác, ý thức của người viết; chấp nhận sống một
kinh nghiệm tinh thần khác với mình,… Điều này cho thấy: những văn bản du
dương, dễ dãi, hời hợt không hấp dẫn được người đọc hiện đại nữa vì họ không
được/phải “sống một kinh nghiệm tinh thần khác với mình”. Ở đó nhà thơ không
“dạy” cho họ sống một kinh nghiệm mới với cái nhìn mới sâu xa, triết lí. (Sinh
viên Khoa Văn của tôi hiện nay qua chuyên đề tôi dạy về Thơ Pháp và lí thuyết
thơ, sau đó cho làm bài tự chọn để phân tích, họ cũng không còn thích những bài
thơ “dễ hiểu” nữa mà lại chọn thử sức ở những bài có phần “khiêu khích”, khó
hiểu để “hợp tác” với ý thức tác giả).

Tôi muốn “hợp tác” với ý
thức Mai Văn Phấn qua bài thơ dưới đây, thử “thâm nhập vào cấu trúc bên trong
của tác phẩm” (tôi đánh số và gạch chân):

 

“Bức
ảnh, trái cây và giấc mơ

 

1. Những bức ảnh thiếu sáng, những trái cây chín ép và giấc
rụng cánh trước cơn mưa, chầm chậm trôi ngược dòng ký ức.

2. Theo ngọn gió mở cánh đồng buổi sớm, ùa vào những căn phòng lẫn
bụi và ánh sáng, lau mồ hôi vừa tắm gội giấc mơ.

3. Và như thế, cội nguồn trong gang tấc, lúc quay về là đi hết đời
mình, hay chờ luân hồi trở lại kiếp sau.

4. Những linh hồn kia chưa kịp đầu thai, đang ngưng
lại nơi không gian thờ phụng, bay lửng lơ rồi nấp vào bái vật giáo bất
động.

5. Có ai chạy từ giấc mơ, trái cây
đến bức ảnh, để nhặt được những gì mình đánh mất, nghe tù đọng
từng giọt nước mắt và nhận ra sự chai lì của mỗi bóng râm.

6. Nơi đầu nguồn đã thay một không gian và thế hệ cỏ non đang ran ran trên đất.

7. Những linh hồn đứng vào góc mở ánh sáng khác, trong tiếng rên của
giọt sương mới, dè dặt vụng về gõ cửa từng nguyên âm.

8. Nhưng khắp nơi đang bắt đầu những dòng đổ vào ký ức, cả từ bức
ảnh
, trái cây, giấc mơ thành giọng nói đêm qua”.

 

Tên bài thơ “không giống”
tên bài thơ (!): những sự vật không “cùng họ” được xếp liền kề thành một bức
tranh siêu thực. Người đọc sẽ tiếp nhận ở tiêu đề này một chuỗi hình ảnh trên
bức tranh “tĩnh vật” trong tâm tưởng và hiệu quả thẩm mĩ là sự tiếp nhận không
theo trật tự trước sau của “đọc” mà là sự “mất trật tự” của “nhìn”. Nhưng, nếu
như hai sự vật đầu “bức ảnh”, “trái cây” (A, B) là vật chất thì “giấc mơ” (C)
lại mang tính chất tinh thần. Vật chất thì dễ nhìn, nhưng tinh thần? Bức tranh
“Giấc mơ” được Picasso vẽ vào 1932, giai đoạn tân cổ điển (néoclasique) của ông, phần nào có thể trả lời cho câu
hỏi.

Nhưng trong ý thức sáng
tạo của nhà thơ, tôi nghĩ, là không “mất trật tự” mà có ý thức cấu trúc rất
chặt chẽ: ta hãy để ý đến trật tự quay vòng – nguyên lí của thơ – ở trật tự các
sự vật qua các câu 1, 5 và 8.

 

Tạm thể hiện bằng sơ đồ: A – B – C / C – B – A / A – B – C.

 

Một sự đảo trật tự và quay vòng trở lại có
dụng ý của tác giả.

 

Câu 5, “mất trật tự”, nằm ở trung tâm bài thơ,
đã khiến bài thơ trở nên “trật tự”, sáng sủa. Thoạt nhìn bài thơ “khiêu khích”
này, người đọc thiếu kiên nhẫn dễ nản vì bị nhà thơ đánh hỏa mù bằng sự “lộn
xộn”. Ta hãy xem xét:

 

Câu 1: “chầm chậm
trôi ngược dòng ký ức” trở ngược lại quá khứ ngày xưa với “bức ảnh thiếu
sáng” thông báo trật tự của thời gian trước sau mà “giấc mơ” là hiện tại gần
nhất. Cụm “mở cánh đồng buổi sớm” và “lau mồ hôi vừa tắm gội giấc mơ” trỏ
cái hiện tại đó.

 

Câu 5:Có ai chạy từ giấc mơ, trái cây đến bức ảnh”,
không phải câu hỏi tu từ mà như tự hỏi: ta có thể quay ngược lại thời gian thơ
ấu hay tuổi hoa niên đẹp đẽ ngày xưa, dẫu “bức ảnh thiếu sáng” của một thời
thiếu thốn? (Thiên đường đã mất của tuổi hoa niên với những cánh đồng, rơm rạ,
buổi chiều, cơn mưa xa ngái luôn có mặt trong thơ Mai Văn Phấn). Nếu câu 1 là
trở về quá khứ từ hiện tại; thì câu 5 đến hiện tại từ quá khứ “để nhặt được những gì mình đánh mất, nghe tù
đọng từng giọt nước mắt và nhận ra sự chai lì của mỗi bóng râm”.

 

Câu 8: quá khứ xa
xưa lại trở về với hiện tại hoặc trở về từ một quá khứ rất gần “đêm qua”:
“Nhưng khắp nơi đang bắt đầu những dòng đổ vào ký ức, cả từ bức ảnh,
trái cây, giấc mơ thành giọng nói đêm qua” theo trật tự cấu trúc A, B, C.

 

Ferdinand de Saussure, cha đẻ của ngôn ngữ học
hiện đại cho rằng: ngôn ngữ mang tính chất quy ước (conventional) và võ đoán
(arbitrary), nó dựa trên sự cảm nhận của con người và được gán cho ý nghĩa chứ
không tồn tại trong bản thân sự vật. Mỗi một từ trong bức ảnh, trái cây, giấc mơ do cộng đồng người Việt “quy ước” với
nhau mà gọi thế, chứ bản thân chúng không mang ý nghĩa đó, nếu không, thế giới
đã nói chung một ngôn ngữ. Còn chúng ta sẽ “võ đoán” hay tùy thích mà gọi “bức
ảnh” là “quá khứ”, là “kỉ niệm”, là “tuổi hoa niên”; “trái cây” là “thành quả”,
là “tình yêu”, là “hiện tại”; “giấc mơ” là “hư ảo”, là “mộng mị”, là “ảo ảnh”,
là v.v… Khi thốt lên: “Thân em như dải lụa đào…” thì các cụ bà của chúng ta
xưa (mà thực ra có thể do các cụ ông làm ra) đã “quy ước” một cách “võ đoán”
với nhau về sự phụ thuộc của người phụ nữ, cả về sự mong manh, “liễu yếu đào
tơ” nữa. Tính chất quan hệ (relational) khi đứng cạnh nhau làm nảy sinh ý nghĩa
của từ cũng đã được de Saussure đề ra. Trong cuộc sống không ai nói: “giấc mơ
rụng cánh trước cơn mưa”, nhưng thơ có quyền và đó là quyền vi phạm ngữ
pháp, tính chất điển phạm của văn xuôi mà chỉ có thơ được phép. Một ví dụ:
“trong tiếng rên của giọt sương mới, dè dặt vụng về gõ cửa từng nguyên
âm” thì chủ ngữ của “gõ” là “giọt sương mới” hay “nguyên âm”? Hoạt động trừu
tượng và liên hệ hiện thực cấp cho tưởng tượng của ta từ “rụng cánh” của một
sinh vật biết bay nào đấy (chuồn chuồn, chẳng hạn), nhất là lại “trước cơn
mưa”. Nhưng một khi “giấc mơ rụng cánh trước cơn mưa” thì “liên hệ” trên lái
ta sang một “thực tại” khác xót xa hơn mà vẫn hữu lí bởi “giấc mơ” vẫn luôn có
quyền bay bổng. Một số hình ảnh siêu thực khác cũng xót xa và cũng cùng một
thao tác như thế: “lau mồ hôi vừa tắm gội giấc mơ” – “mồ hôi” của nhọc nhằn lại
“lội” được cả vào vô thức của giấc mơ! Đến đây, một lần nữa trở lại với de
Saussure, khi ông cho rằng ngôn ngữ tạo ra những khái niệm khiến con người cảm
nhận được thế giới hiện thực xung quanh, vì vậy, ngôn ngữ sáng tạo ra hiện thực
chứ nó không “copy” hiện thực. Điều này dễ gây ra một phản ứng phản biện: cái
“xe máy” là một “hiện thực”; ngôn ngữ có tạo ra cái “hiện thực” đó để mang ra
sử dụng được không? Xin thưa, trước hết, “xe máy” là một khái niệm chỉ của
người Việt Nam “tùy tiện” đặt ra mà các ngôn ngữ khác không có. Và khi nói khái
niệm đó (dù không nhìn thấy) chúng ta vẫn biết nó có ít nhất hai bánh và có
động cơ. Còn bản thân cái xe máy thì không “chứa” trong nó khái niệm “xe máy”.
Chính vì thế mới nói ngôn ngữ “sáng tạo” ra hiện thực chứ không phải ngược lại.
Tôi sẽ “sáng tạo” ra một “hiện thực” xe máy khác bằng cách gọi, chẳng hạn: “con
ngựa sắt”, “chiến mã”, “kẻ uống xăng”, “anh hùng xa lộ”… (Còn ý phản biện trên
kia theo “cơ chế thị trường” thì tôi không thảo luận thêm vì nó xa với nội hàm
của khái niệm đang bàn; hơn nữa, như Octavio Paz nói: thơ không mang lại bất cứ
thu hoạch vật chất nào, người giàu thơ vẫn có thể là người rất nghèo).

 

Nhà thơ là người sáng tạo ra một hiện thực
khác với cái hiện thực chúng ta hít, thở, ăn uống, họp hành, âu yếm, cãi nhau…
hằng ngày, dù cho vẫn có thể có những thứ đó trong thơ, nhưng chúng đã bị khúc
xạ đi do lăng kính chủ quan của nhà thơ.

 

Đến đây, tôi tạm chia tay với chặng đường từ
“hát” đến “nói” trong thơ Mai Văn Phấn để đến với những vấn đề khác. Sự phân
chia chỉ có tính chất tương đối. Vấn đề là độ đậm đặc ít hay nhiều, bởi ngay
trong phần “hát” anh vẫn chen vào “nói” bằng những hình ảnh siêu thực, những
triết lí, những sáng tạo hiện thực mới, lạ cho một hiện thực cũ, quen.

 

3. Những ẩn dụ ám ảnh: “cỏ” và “nước”:

3.1. Số lượng từ
“cỏ” và “nước” xuất hiện tương đương và dày đặc trong tuyển thơ Mai Văn Phấn:
đều xấp xỉ trên 100 lần mỗi từ. Những ẩn dụ đó nói lên điều gì? Hai ẩn dụ này
là những ám ảnh của nhà thơ, dù ý thức hay không, chúng sẽ dệt nên một mạng
lưới các tập hợp hình ảnh, mà ở những bài thơ được làm vào những giai đoạn thơ
khác nhau, sẽ cho một kết quả nào đấy về vô thức của tác giả. Khi một từ hoặc
một hình ảnh có một sự xuất hiện dày đặc trong một tác phẩm và nhất là trong
toàn bộ tác phẩm của một nhà văn thì dù vô tình vẫn phải có một vấn đề gì đó.
Nhất là khi nó lại là một ám ảnh vô thức.

 

Đọc tuyển thơ Mai Văn Phấn, tôi thấy xuất hiện
khá dày đặc các từ “cỏ” và “nước”. Không phải vô tình mà tôi lấy làm đề từ cho
bài viết câu thơ trên. Cỏ “mọc” khá dày trong thơ anh. Có riêng 3 bài đã có
tiêu đề trong đó có “cỏ”: Tản mạn về cỏ;
Khai bút cùng cỏ
Hình Đám cỏ. Trường
ca Người cùng thời và 2 bài thơ dài Những bông hoa mùa thu Hình Đám cỏ đã chiếm kỉ lục về “cỏ”.

 

Trong công trình Từ những ẩn dụ đến huyền thoại cá nhân, Charles Mauron()
hướng phê bình phân tâm học
(psychocritique) đến bốn thao tác: 1. xếp chồng văn bản đọc toàn bộ tác phẩm
của một tác giả để tìm ra một mạng lưới

7+ Kinh nghiệm thuê thiết kế nội thất chung cư uy tín tại Hà Nội

Ngũ hành phong thủy đem lại may mắn cho người mệnh Kim. – Xưởng …

Nếu đây là tủ sách của bạn …

Bạn sẽ sơn màu gì?



 Tùy chọn tủ sách được sơn


Chúng tôi đã sử dụng tiếng ngáy của một kệ sách ở Manhattan khoảng ba năm trước và đó là một trong mười tác phẩm đã chuyển đến Richmond với chúng tôi trong một xe tải nhỏ Chúng tôi đã luôn coi nó như một chiếc máy tính cho đến khi chúng tôi có được thứ gì đó tốt hơn bởi vì nó không có gì đặc biệt khủng khiếp về nó, nhưng bằng cách nào đó nó đã tồn tại lâu như vậy, vì vậy chúng tôi nghĩ rằng đã đến lúc chúng tôi làm cho nó hoạt động. để cung cấp cho nó công việc sơn Nhà trẻ tình yêu (gỗ là một chút màu đỏ cho dù sao nhà của chúng tôi). Và nhìn thấy một chiếc giường màu xanh lá cây được sơn đẹp mắt trên google đã cho chúng tôi sự tự tin để thử một thứ khác ngoài màu trắng nhưng chúng tôi cần sự giúp đỡ của bạn để chọn màu mới (và thực sự cảm thấy tự tin về nó).

phía bên trái của pic ở trên) là:

1. Một màu xám tím gợi nhớ đến hình in phía trên kệ sách.

2. Một màu xanh im lặng lấy cảm hứng từ phòng ngủ và nhà bếp của chúng tôi.

3. Một màu xanh lá cây bụi bặm để bổ sung cho các sắc thái đôi khi màu tím trong màu tường tan.

Hoặc chúng ta thoát khỏi sự lộn xộn và đi với những gì chúng ta biết: màu trắng.

Bạn có thấy tại sao chúng ta cần bạn không? Chúng tôi thực tế bị tê liệt với sự thiếu quyết đoán. Chúng tôi không muốn đi quá sáng vì phần còn lại của phòng khách của chúng tôi khá trung tính:



 width=


Vì vậy, hãy bỏ phiếu cho một trong những màu trên hoặc thoải mái ném một số tùy chọn khác vào hỗn hợp. Cảm ơn trước sự giúp đỡ và tất nhiên, chúng tôi sẽ đăng ảnh sau khi chúng tôi hoàn thành công việc.

1001 kinh nghiệm cải tạo nhà cũ thành nhà mới của một “phù thủy” gia
Cách học 3dsmax đâu là cách học tốt nhất cho bạn – AWE
Gợi ý cách lựa chọn bàn làm việc 1m6 cho phòng giám đốc
Người phụ nữ dùng chai nhựa xây 300 ngôi nhà cho người nghèo …
Thiết kế Nội thất nhà hàng Nhật Bản của học viên AWE
Yên bình trong nhà trắng đơn giản-Nhà đẹp 24297 – Eva

Thiết kế nội thất căn hộ chung cư kiểu Nhật truyền thống 9 – Nội Thất Nam Dương